Quốc gia khởi nghiệp


Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Bùi Quang Vinh, trong phiên thảo luận của Quốc hội về dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi) ngày 16-6, đã đăng đàn phát biểu về quyền tự do kinh doanh.
Theo dõi nghị trường lâu năm, có thể thấy rằng việc một bộ trưởng thuộc lĩnh vực kinh tế bấm nút phát biểu trong phiên họp về đạo luật trong lĩnh vực tư pháp, không phải là chuyện thường xuyên xảy ra. 
Hơn nữa, cách đặt vấn đề và giọng nói của ông Bùi Quang Vinh khi nêu vấn đề thực sự rất, rất thiết tha. 
Đại ý ông Bùi Quang Vinh đề nghị Bộ luật hình sự (sửa đổi) phải thể chế hoá được tinh thần của Hiến pháp 2013 là mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm, đồng thời không hình sự hóa các quan hệ kinh tế và dân sự. Theo ông Vinh, đây là vấn đề không mới, nhưng rõ ràng nó vẫn đang là những trở ngại, là những rào cản đối với công cuộc đổi mới, sáng tạo, làm nản lòng rất nhiều nhà đầu tư, doanh nhân muốn bỏ tiền ra đầu tư kinh doanh.
Ông Vinh cũng cho rằng những luật về kinh tế có thoáng bao nhiêu chăng nữa mà Luật hình sự bó chặt lại, không rõ ràng, minh bạch thì không ai dám bỏ tiền làm ăn. 
“Chúng tôi chắc chắn như vậy và đây là vấn đề vận mệnh của đất nước” – Bộ trưởng Bùi Quang Vinh nói.
Tình cờ, tôi đọc một bài trên Thời báo kinh tế Sài Gòn về câu chuyện khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ. Bài báo này cho biết, trải qua hơn nửa thế kỷ, sóng khởi nghiệp bắt đầu dâng ở Mỹ, sau lan đến Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, nay Đông Nam Á là thị trường tiếp theo mà các quỹ đầu tư đang hướng tới. Chỉ riêng 15 startup đang dẫn đầu thị trường Đông Nam Á đã gọi được nguồn vốn lên đến 2,3 tỉ đô la Mỹ. Vấn đề là trong số này không có startup nào đến từ thị trường Việt Nam.
Lý do có nhiều. Có thể kể đến như ở Việt Nam, một công ty khởi nghiệp phải từ 6 tháng đến 1 năm mới có thể nhận được vốn đầu tư. Khoảng thời gian này là quá dài đối với công ty khởi nghiệp cũng như nhà đầu tư, vì công nghệ thay đổi nhanh, sáu tháng là khoảng thời gian đủ quyết định sự thành bại của một dự án. Hoặc khi muốn tăng vốn, các nhà đầu tư phải qua các khâu đăng ký kinh doanh, chờ đợi hồ sơ được các cơ quan hữu quan ký duyệt, đóng dấu cũng mất thêm vài tháng. Trong khi đó, ở các nước như Singapore, Thái Lan, Indonesia, thủ tục cấp phép được tiến hành rất nhanh, họ ứng dụng chữ ký điện tử trên diện rộng, việc cấp giấy phép chỉ trong một tuần.
Cũng theo bài báo này, một thực trạng đáng lo ngại hiện nay là đã có một số bạn trẻ Việt Nam sang Singapore kết hợp với bạn bè hoặc đối tác bên đó thành lập công ty khởi nghiệp tại đảo quốc này. Nếu thành công, sản phẩm đó không thể gọi là của người Việt, và nếu có dòng vốn đầu tư đổ vào thì đương nhiên thuộc về kinh tế Singapore.
Như vậy là, một lần nữa, câu chuyện không mới. Hành lang pháp lý chưa thông thoáng, công ty khởi nghiệp (startup) thiếu tầm nhìn, chất lượng sản phẩm thấp... là những nguyên nhân khiến thị trường startup công nghệ Việt Nam đang dần mất đi cơ hội nhận nguồn vốn đầu tư lớn.
Không rõ đây cũng là “vấn đề vận mệnh của đất nước” như cách nói của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh nêu trên hay không. Trong khi đó, đi trên đường phố Hà Nội, Sài Gòn, ta vẫn thấy ngày càng nhiều xe sang, nhiều nhà hàng “hoành tráng” đông khách…
Sự phồn vinh đến từ đâu, nếu không phải đến từ một quốc gia khởi nghiệp (start – up nation), hay như người Việt Nam hay nói là “phi thương bất phú”?
Võ Văn Thành