Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải

Phòng họp Chính phủ hiện được thiết kế dạng bàn tròn, từ năm 2017 về trước hình chữ nhật. Thủ tướng ngồi ở trung tâm, xung quanh là các Phó thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng bên tả và Bộ trưởng Công an bên hữu, rồi đến thành viên Chính phủ khác.
Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải có 9 năm ở vị trí trung tâm Chính phủ, từ 1997 đến 2006. Trong nhiệm kỳ đầu của ông, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư là TS Trần Xuân Giá.
Ông Trần Xuân Giá và nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải có mối quan hệ bạn bè, đồng nghiệp trong 57 năm. Hai người quen nhau từ năm 1961, khi học cùng trường đại học Kinh tế Quốc dân Plekhanov ở Liên Xô (cũ). Ông Phan Văn Khải đến Liên Xô từ 1960, một năm sau ông Trần Xuân Giá cũng đến học tại trường này. Họ cùng sinh hoạt trong một đơn vị.
Thủ tướng Phan Văn Khải hội đàm với Tổng thống George W. Bush tại Nhà Trắng ngày 21/6/2005. Ảnh: AFP/Getty
“Vì là chỗ thân tình nên trừ những trường hợp mang tính chất rất chính thức tôi mới gọi nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đầy đủ họ tên, còn lại bao giờ cũng chỉ gọi đơn giản “Anh Sáu” hay “Anh Sáu Khải”. Ngược lại Anh Sáu Khải bao giờ cũng gọi tôi bằng “Mày” (“Mày giúp tao cái này, cái kia…”) hoăc “Ông” (“Ông giúp mình cái này cái, cái kia…”)”, ông Giá kể.
Khi ông Sáu Khải làm ở Uỷ ban kế hoạch của TP HCM, rồi Chủ tịch UBND TP HCM, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thì ông Trần Xuân Giá làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước, Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng. Công việc có nhiều liên hệ với nhau, đặc biệt là giai đoạn từ 1990 đến 2006.
Trong nhiệm kỳ thứ hai ông Phan Văn Khải đứng đầu Chính phủ, ông Giá chuyển sang làm trưởng Ban nghiên cứu của Thủ tướng (bây giờ gọi là Tổ tư vấn).
Với quá trình như vậy, ông Trần Xuân Giá chắc chắn là một trong những người hiểu sâu sắc nhất về nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải. Khi chia sẻ về dấu ấn của người bạn cũng là lãnh đạo của mình, ông Giá nói liền một mạch và trong cuộc trò chuyện không dài lắm, phóng viên ghi được gần 3.000 chữ.
Ba trong số các dấu ấn đó đã được nhắc đến nhiều trong những ngày qua. Một là Luật doanh nghiệp 1999, đột phá lớn về đổi mới thể chế với tư tưởng “người dân có thể làm bất kể việc gì mà pháp luật không cấm”, “nhà nước chỉ làm những gì người dân không làm được hoặc không muốn làm”; thành lập tổ thi hành Luật doanh nghiệp xoá bỏ một khối lượng lớn “giấy phép con” lúc bấy giờ.
Hai là lo ổn định kinh tế vĩ mô. Bây giờ nhìn lại, ai cũng có thể thấy giai đoạn cuối thập niên 1990, đầu những năm 2000, nền kinh tế đã phát triển tương đối ổn định.
Ba là đề ra chương trình xoá đói giảm nghèo và nỗ lực thực hiện nó, mà sau này mọi người quen gọi “chương trình 135”.
Ngoài ra, nhiều quyết sách quan trọng liên quan đến thị trường chứng khoán, internet vào Việt Nam, hiệp định thương mại Việt Mỹ (BTA),… đều được đặt dấu mốc trong giai đoạn trên.
Trong 13 năm (1994 đến 2006), GDP tăng bình quân hàng năm 7,5%, chỉ số giá tiêu dùng tăng 5,3%. Tỷ trọng của kinh tế nhà nước từ 40,1% năm 1994 giảm còn 37,4% năm 2006; của doanh nghiệp tư nhân từ 7,4% tăng lên 9,4%. FDI từ 6,4% tăng lên 17%. Tỷ lệ hộ nghèo năm 1993 là 41,6%, năm 2006 là 16,0%.
Những con số tự nó cũng đã nói lên nhiều điều.


Đánh giá di sản của một nhà lãnh đạo, mỗi người từ góc độ tiếp cận và trải nghiệm của riêng mình có thể khen – chê và đòi hỏi nhiều hơn, đưa ra ý kiến cá nhân, đó là điều thường tình trong một xã hội lành mạnh.
Khi một nhà lãnh đạo làm đúng việc ở vị trí của mình, lịch sử chắc chắn sẽ đánh giá công bằng. Và mọi người trong xã hội cũng vậy thôi, làm đúng việc của mình là điều hạnh phúc nhất.
Võ Văn Thành